Phương pháp bổ sung vi sinh vật ruột trong điều trị viêm loét dạ dày, đại tràng, trào ngược dạ dày

Viêm loét dạ dày, rồi dẫn đến trào ngược dạ dày là một trong những bệnh về đường tiêu hóa phổ biến nhất. Nhiễm Helicobacter pylori (H. pylori) và việc sử dụng lâu dài các thuốc kháng viêm (không steroid) là những yếu tố chính gây viêm loét dạ dày.

Thực tế, Y học hiện nay thường sử dụng chất ức chế axit và kháng sinh để điều trị viêm loét dạ dày. Tuy nhiên, trong vài thập kỷ qua, các bằng chứng về các tác dụng phụ của kháng sinh và thuốc ức chế acid đã làm các bác sỹ có xu hướng sử dụng phương pháp thay thế, bổ sung vi khuẩn ruột điều trị viêm loét dạ dày.
Các vi sinh vật sống được bổ sung vào hệ tiêu hóa và được quản lý với số lượng thích hợp sẽ đem lại lợi ích cho sức khoẻ cho chính người mà các vi sinh vật này cư trú. Hiện nay, các nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đã chỉ ra rằng các các vi khuẩn sống đã đưa lại các kết quả ý nghĩa trong điều trị bệnh viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày.
Vậy hãy tìm hiểu cơ chế tác động của vi sinh vật ruột và tại sao sự mất cân bằng vi sinh vật ruột là một trong những nguyên nhân quan trọng gây tái phát bệnh viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày.

Microbiome 640x427

Vai trò của vi khuẩn ruột đối với hệ tiêu hóa

Sự tương tác bình thường giữa các vi khuẩn ruột và con người là một mối quan hệ cộng sinh, có lợi cho cả hai bên.

Con người cung cấp môi trường sống giàu chất dinh dưỡng, và vi khuẩn ruột mang lại lợi ích cho sức khỏe của con người mà nó đang sống cộng sinh. Có nghĩa là vi khuẩn ruột là thành phần không thể thiếu để tạo nên một hệ tiêu hóa khỏe mạnh cho con người.

Tuy nhiên, bằng chứng được tích lũy qua nhiều thập kỷ đã chứng minh rằng một số vi khuẩn ruột trở thành tác nhân gây bệnh khi chúng tăng cao về số lượng và chiếm đa số (ví dụ trực khuẩn Gram dương Chlostridium difficile – là loại vi khuẩn cơ hội- có khả năng gây ra viêm loét, sưng tấy và kích thích ruột già – đại tràng. Khi loại vi khuẩn này phát triển quá mức, người bệnh sẽ có những triệu chứng như đau quặn bụng, tiêu chảy nhiều lần trong ngày… thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng. Một số loài vi khuẩn ruột ký sinh khác là mầm bệnh tiềm ẩn khi sự toàn vẹn của niêm mạc bị phá hủy (ví dụ một số vi khuẩn Gram âm).

  • Một thí nghiệm so sánh giữa động vật được nuôi trong điều kiện không có vi khuẩn với các động vật được nuôi trong điều kiện thông thường cho thấy: một loạt các đặc điểm giải phẫu và chức năng sinh lý có liên quan đến sự hiện diện của vi sinh vật.
    • Động vật được nuôi trong điều kiện không có vi khuẩn cần có các yêu cầu về dinh dưỡng đặc biệt hơn để duy trì trọng lượng cơ thể và sức đề kháng yếu, dễ bị nhiễm khuẩn.
    • Trọng lượng các cơ quan nội tạng (tim, phổi, gan), năng lực làm việc của tim, độ dày thành ruột, nồng độ gamma-globulin trong huyết thanh, hạch bạch huyết,… đều giảm hoặc có tính ô xi hóa cao ở các động vật nuôi trong điều kiện không có vi trùng.
  • Kết quả của các thí nghiệm tương tự cho thấy vi khuẩn ruột đã thực hiện các nhiệm vụ quan trọng cho sự cân bằng nội môi trong cơ thể động vật. Bằng chứng thu được thông qua các mô hình động vật như vậy gợi ý rằng các chức năng chính của vi sinh vật được chia thành 3 loại: chức năng trao đổi chất, chức năng bảo vệ và chức năng dinh dưỡng.

 Chức năng trao đổi chất của vi khuẩn

Các hoạt động trao đổi chất trong hệ sinh vật đường ruột cũng diễn ra giống hệt như trong một cơ quan tiêu hóa. Sự đa dạng gen của hệ vi sinh vật cung cấp nhiều loại enzyme và các cơ chế sinh hóa khác biệt với các gen của con người.

  • Các quần thể vi khuẩn sống cộng sinh thực hiện nhiệm vụ phá vỡ các thành phần vách tế bào phức tạp, cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng cho cả vi sinh vật và vật chủ. Bên cạnh đó, việc cung cấp các acid amin nhằm giúp chuyển hóa thức ăn phụ thuộc vào các hoạt động của vi sinh vật trong dạ dày.
  • Đối với con người, ruột là nơi có một lượng lớn các vi khuẩn hoạt động. Do thời gian vận chuyển các chất trong hệ tiêu hóa chậm, các dư lượng thực phẩm khó tiêu hóa và các chất bài tiết nội sinh lúc này có cơ hội phá hủy niêm mạc ruột, dạ dày. Vi khuẩn ruột trong trường hợp này có vai trò thu thập, chuyển hóa và loại bỏ những dư lượng thực phẩm khó tiêu đã nạp vào cơ thể, góp phần ngăn chặn hoạt động phá hủy tại niêm mạc tại dạ dày, đại tràng.
  • Carbohydrate được lên men trong đại tràng thành các axit béo chuỗi ngắn, chủ yếu là acetate, propionate và butyrat, và một số chất chuyển hóa khác như lactate, pyruvate, ethanol, succinate cũng như các khí H2, CO2, CH4 và H2S.
    • Axit béo chuỗi ngắn axit hóa pH ở trong lòng ruột, ngăn chặn sự phát triển của các mầm bệnh và tạo thuận lợi cho việc hấp thụ các ion (Ca, Mg, Fe) trong đại tràng. Chúng cũng ảnh hưởng đến nhu động ruột và đóng góp vào việc tăng cường năng lượng.
    • Acetate được chuyển hóa trong cơ, tim, thận và não.
    • Butyrate được chuyển hóa chủ yếu bởi biểu mô đại tràng, nơi nó cung cấp năng lượng chính cho quá trình điều tiết sự tăng trưởng và phân chia tế bào.

 Chức năng bảo vệ của vi khuẩn

Một trong những chức năng quan trọng của hệ vi sinh ruột là tạo nên một rào cản ngăn chặn sự xâm nhập của các mầm bệnh.

Vi khuẩn cư trú đại diện cho yếu tố chống đỡ các vi khuẩn từ bên ngoài xâm nhập hoặc ngăn cản các vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường ruột. Nhưng sự tăng trưởng của hệ vi sinh ruột rất hạn chế. Sự cân bằng giữa các loài vi khuẩn cư trú cung cấp sự ổn định trong quần thể vi sinh vật, nhưng thuốc kháng sinh có thể phá vỡ sự cân bằng này (ví dụ: sự tăng tính độc của loại trực khuẩn Gram dương Chlostridium difficile – một vi khuẩn cơ hội sống trong lòng ruột gây bệnh viêm đại tràng mạc giả khi sử dụng kháng sinh).
Có rất nhiều cơ chế liên quan đến hiệu ứng rào cản. Trong đường ruột, các vi khuẩn cạnh tranh nhau các vị trí bám dính vào rìa bàn chải của tế bào biểu mô ruột. Các vi khuẩn không gây bệnh có thể ngăn chặn sự tấn công và bám dính của các loại vi khuẩn gây bệnh vào các biểu mô của hệ ruột.
ke-cap-mat-trang-4
Hơn nữa, các vi khuẩn cạnh tranh nhau để có được nguồn dinh dưỡng có sẵn trong đường ruột và duy trì nơi cư trú cho cả quần thể bằng cách điều tiết và tiêu thụ tất cả các nguồn lực tại chỗ. Các nghiên cứu chuyên sâu đã chỉ ra rằng chủ thể (ở đây là con người) đã cung cấp một nguồn dinh dưỡng mà vi khuẩn cần, và các vi khuẩn này chủ động đưa ra tín hiệu cho chủ thể biết lượng dinh dưỡng nào và bao nhiêu các loài vi khuẩn này cần.
Mỗi quan hệ cộng sinh này ngăn cản sự sản xuất dư thừa chất dinh dưỡng tại đường ruột, có nghĩa là nó giúp làm ngăn cản sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh đối với chủ thể. Cuối cùng, vi khuẩn có thể ức chế sự phát triển của các đối thủ cạnh tranh bằng cách sản xuất các chất kháng khuẩn gọi là bacteriocin. Khả năng kháng khuẩn của vi khuẩn ruột được phân bố rộng rãi trong các quần thể vi khuẩn ruột tồn tại trong hệ tiêu hóa.

 Chức năng dinh dưỡng của vi khuẩn

Các chức năng này bao gồm kiểm soát sự biến đổi và phân chia tế bào biểu mô, điều tiết một số cơ chế thần kinh nội tiết nhất định trong hệ thống miễn dịch.

Các vi khuẩn ruột cũng đóng một vai trò thiết yếu trong sự phát triển của một hệ miễn dịch khỏe mạnh (động vật được nuôi trong môi trường không có vi khuẩn có mật độ tế bào lympho thấp trong niêm mạc ruột và mức globulin miễn dịch thấp). Sự tăng nhanh các vi khuẩn có lợi giúp tăng nhanh số lượng tế bào lympho niêm mạc và làm tăng kích thước của trung tâm mầm trong hạch bạch huyết. Tế bào sản xuất kháng thể xuất hiện ở lớp đệm niêm mạc chứa các dịch tiết, và có sự gia tăng đáng kể số lượng kháng thể trong huyết thanh. Điều thú vị là, các vi khuẩn có lợi đóng vai trò chính trong việc tạo ra các tế bào T (tế bào giúp tăng cường miễn dịch) trong nang bạch huyết (hạch bạch huyết). Các cơ chế điều khiển được tạo ra bởi các tế bào T là những cơ chế chuyển hóa cân bằng nội môi.
Những tác động đa dạng và nhiều chiều giữa vi khuẩn ruột và cân bằng nội môi định hình ra một hệ thống miễn dịch ổn định.
Tóm lại, cân bằng nội môi của mỗi cá thể với môi trường bên ngoài bị tác động lớn bởi sự cân bằng động giữa quần thể vi sinh đường ruột và hệ miễn dịch.
Như vậy, giải pháp bổ sung vi khuẩn ruột điều trị viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày và các bệnh liên quan đến co thắt đại tràng là cơ sở ứng dụng quan hệ cộng sinh của vi khuẩn với cơ thể chủ một cách tự nhiên và đang được các bác sỹ ưu tiên áp dụng hiện nay.

Tìm hiểu phương pháp bổ sung vi khuẩn ruột điều trị viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày hãy gọi

18008076098.128.3766

Tìm mua sản phẩm bổ sung vi khuẩn ruột điều trị viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày hãy click


Sản phẩm Kukumin IP đã được kết hợp với chiết xuất lợi khuẩn đường ruột 

Cơ chế bổ sung thành phần vách tế bào của vi khuẩn ruột  trong điều trị viêm loét dạ dày tại đích và cân bằng hệ vi sinh khuẩn ruột của Kukumin IP

1. Cơ chế bổ sung vi khuẩn có lợi và tăng cường yếu tố miễn dịch cơ thể

Trong mỗi viên Kukumin IP chứa 150mg ImmunePath IP và 350mg Curcumin Phytosome

  • ImmunePath-IP® có bản chất là các peptidoglycan được tách ra từ thành tế bào của lợi khuẩn Lactobacillus paracasei với kỹ thuật thủy phân bằng enzyme. Khi vào dạ dày, đại tràng, Immunepath IP có vai trò như một kháng nguyên trong hệ tiêu hóa, giúp cân bằng hệ vi khuẩn trong hệ tiêu hóa và giúp tăng cường hệ thống miễn dịch cả cơ chế toàn thân (hệ thống hạch bạch huyết) và cơ chế tế bào (các tế bào lympho T và bạch cầu), làm tăng khả năng đề kháng tự nhiên của cơ thể.
  • Immunepath IP giúp tái tạo niêm mạc đường tiêu hóa, tăng cường miễn dịch, nên phần niêm mạc bị tổn thương nhanh chóng hồi phục và tái tạo, giúp lành sẹo, ngăn ngừa tình trạng lan tràn ổ loét đồng thời khôi phục yếu tố bảo vệ cho niêm mạc.
  • Immunepath IP cung cấp các nguồn dưỡng chất thiết yếu cho vi khuẩn có lợi đường tiêu hóa, góp phần củng cố số lượng và chất lượng các lợi khuẩn sẵn có.

Nhờ Immunepath IP, niêm mạc được bảo vệ và hệ vi sinh đường ruột cân bằng, sự cân bằng nội môi được duy trì. Do vậy cả 3 chức năng trên (chức năng trao đổi chất, chức năng bảo vệ, chức năng dinh dưỡng) của vi khuẩn ruột đều được duy trì và cân bằng tự thân. Điều này làm cho hệ tiêu hóa và hệ thống miễn dịch khỏe mạnh.
Curcumin phytosome

2. Cơ chế chống viêm loét dạ dày nhờ vai trò của Curcumin Phytosome

  • Curcumin phytosome là sự kết hợp của curcumin (hoạt chất chiết xuất trong củ nghệ vàng) với phosphatidylcholin-một hợp chất tự nhiên từ đậu nành. Đây là một thành tựu khoa học được cấp bằng sáng chế toàn cầu của Indena (trung tâm nghiên cứu Dược phẩm tại Italy)
  • Phytosome là một cấu trúc sinh học, giống với cấu trúc tế bào cơ thể, liên kết với các phân tử Curcumin và dẫn Curcumin chui qua các khe tế bào một cách dễ dàng và nhanh chóng.
  • Trong một nghiên cứu dược động học trên 18 người tình nguyện (chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm 9 người) nhằm so sánh sự hấp thu giữa curcumin phytosome và curcumin dạng tự do. Kết quả cho thấy sự gia tăng hấp thụ curcuminoid từ curcumin phytosome cao hơn khoảng 31,5 lần so với curcuminoids ở dạng tự do.
  • Curcumin Phytosome giúp chống viêm tại chỗ: Cấu tạo tương tự tế bào giúp curcumin phytosome bám dính dễ dàng và xâm nhập vết loét cao gấp nhiều lần so với các dạng curcumin khác. Mật độ chất chống viêm này tại vết trợt rất cao, phát huy tác dụng chống viêm ngay tại vết viêm loét dạ dày.

Người bệnh đang đau rát trong giai đoạn cấp tính nhận thấy tác dụng rất nhanh, không còn cảm giác đau rát, nóng bỏng, bụng căng tức.

  • Curcumin Phytosome giúp chống viêm toàn thân: lượng curcumin phytosome còn lại sau khi được giải phóng và tác dụng ngay tại dạ dày sẽ được hấp thu hoàn toàn tại ruột non. Bản chất curcumin là một kháng sinh tự nhiên hấp thu với nồng độ cao có tác dụng kìm hãm và diệt vi khuẩn Hp và phát huy tác dụng toàn thân.
  • Làm tăng các yếu tố bảo vệ dạ dày như tăng tiết dịch nhày (mucin), giảm các enzyme gây viêm và các enzyme xúc tác quá trình gây viêm. Nhờ đó, quá trình viêm loét dạ dày được kiểm soát, dẫn đến quá trình loét cũng được loại bỏ.

Tham khảo các chứng nhận và các bằng phát minh sáng chế toàn cầu của curcumin phytosome
Tham khảo tài liệu khoa học về cơ chế chống viêm của curcumin phytosome trên người bị viêm loét dạ dày

3. Cơ chế tăng nhanh sản sinh niêm mạc và làm liền sẹo

  • Curcumin có tính chất làm nhanh lành sẹo, nên với nồng độ cao, nó thúc đẩy quá trình lên da non và hàn gắn sẹo hiệu quả.
  • Immunepath IP có công dụng tái tạo niêm mạc đường tiêu hóa, tăng cường miễn dịch, nên phần niêm mạc bị tổn thương nhanh chóng hồi phục và tái tạo, giúp lành sẹo, ngăn ngừa tình trạng lan tràn ổ loét đồng thời khôi phục yếu tố bảo vệ cho niêm mạc.
  • Immunepath IP cung cấp các nguồn dưỡng chất thiết yếu cho vi khuẩn có lợi đường tiêu hóa, góp phần củng cố số lượng và chất lượng các lợi khuẩn sẵn có. Việc bổ sung vi khuẩn ruột điều trị viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày đã được ứng dụng thông minh trong sản phẩm Kukumin IP bằng cách bổ sung thành phần Immunepath IP – hoạt chất mang đầy đủ các tính năng vượt trội, sự an toàn và hiệu quả của lợi khuẩn vào hệ tiêu hóa.

Tham khảo về Sinh khả dụng của curcumin phytosome
Tham khảo về cơ chế tác dụng của Immunepath IP
Nghe nhiều bệnh nhân chia sẻ trải nghiệm sau một thời gian sử dụng Kukumin IP tại đây

Điện thoại tư vấn

18008076098.128.3766

Trả lời

Facebook chat