Phát hiện của GS.TSKH. Hoàng Tích Huyền về curcumin

Lời giới thiệu: Đã có không ít bài viết về Curcumin – hoạt chất tốt từ củ nghệ vàng, vốn có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam sau đến nhiều quốc gia Đông Nam Á và châu Á khác. Để làm rõ hơn về tác dụng của hoạt chất hữu ích này, Kukumin IP xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của GS.TSKH. Hoàng Tích Huyền, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Dược lý, Đại học Y Hà Nội.

gs ts Hoàng Tích Huyền, trưởng bộ môn Dược lý, Đại học Y Hà Nội
GS.TSKH. Hoàng Tích Huyền, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Dược lý, Đại học Y Hà Nội

Từ xa xưa ở Ấn Độ, củ nghệ đã được dùng hàng ngày để dễ tiêu, để chữa đầy hơi, thuốc bổ, lọc máu, khỏe gan mật, chữa sốt rét, cảm lạnh, chống ký sinh trùng và trong nhiều bệnh ngoài da. Tại Trung Quốc, củ nghệ là thuốc kích thích, thuốc bổ, giảm đau, cầm máu, tăng cường chuyển hóa, dùng trong loét và chảy máu dạ dày, đái ra máu và nhiều bệnh khác.

Ở Nepal, củ nghệ là thuốc kích thích, bổ, lọc máu. Ngoài ra còn dùng ngoài chữa bong gân, làm lành vết thương. Ở các nước Đông Nam Á, củ nghệ dùng bổ dạ dày, cầm máu, chữa vàng da, các bệnh gan mật, điều hòa kinh nguyệt, tăng tuần hoàn, tan cục máu đông, chống nhiễm khuẩn đường tiết niệu, đau bụng, chán ăn, đau lưng, đau ngực, tiêu chảy, đau khớp, ho, lao phổi, làm lành vết thương… Ở Papua New Guine, củ nghệ được dùng để trị đau ở da, vết thâm tím, cảm sốt…

Còn tại Việt Nam, các bài thuốc có chứa củ nghệ của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác dùng chữa chứng trúng phong bại liệt, huyết tụ gây đau nhói ổ bụng, đái ra máu, ra nhiều mồ hôi, chữa lở, ngứa, ghẻ, sai khớp, bong gân, huyết ứ, đau vùng tim…

Thành phần của củ Nghệ

Những thành phần chính là các curcumin có cấu trúc polyphenol gồm: Curcumin (curcumin I), demethoxycurcumin (curcumin II), bisdemethoxycurcumin (curcumin III). Curcumin tinh khiết chiếm 1,5% – 2% trong củ nghệ, trong đó curcumin I chiếm thành phần lớn nhất (60%). Để tiện gọi, thường dùng từ “curcumin” cho cả ba loại.

Ngày nay, curcumin là phân tử đa năng nhờ tương tác với số lớn các đích phân tử như protein, enzyme, DNA, RNA, các carrier (chất mang): Chống oxy hóa, chống viêm, chống vi khuẩn, chống ung thư. Còn bảo vệ gan thận, chống huyết khối, vữa xơ mạch máu, nhồi máu cơ tim, giảm glucose – máu, đái tháo đường, thấp khớp, dị ứng, hen, kích thích phế quản, chảy nước mũi, ho, viêm xoang, rối loạn tiêu hóa, bệnh răng miệng, vết thương do bệnh đái tháo đường, tự miễn, xơ hóa bàng quang, vảy nến, xơ cứng toàn thân, luput ban đỏ hệ thống, rối loạn lipid máu…

Curcumin chống oxy hóa rất tốt, trung hòa các gốc tự do superoxyde và hydroxyl, vì vậy làm giảm sự peroxy – hóa lipid, bảo vệ glutathion, bảo vệ ty lạp thể và lưới nội bào của tế bào thận để chống hủy hoại thận, còn bảo vệ não, tim, gan, mật, hệ miễn dịch, da để chống các chất oxy hóa.

Tác dụng chống viêm của curcumin là nổi trội nhất: Chống viêm dạ dày – ruột, tụy, khớp, mắt, viêm hậu phẫu, những rối loạn thoái hóa thần kinh… Thử nghiệm trên vật nuôi cho thấy, curcumin có tác dụng tích cực chống mọi giai đoạn của ung thư (khởi đầu, tăng sinh, di căn). Tới nay, đã có trên 4.000 nghiên cứu tiền lâm sàng về curcumin.

Cơ chế tác dụng chính của curcumin

Trong cơ thể có yếu tố nhân kappa B (nuclear factor kappa B; NFƘB). Khi có tín hiệu gây viêm thì NFƘB sẽ được hoạt hóa, đi vào nhân tế bào, kích thích các gene gây viêm ở nhân, từ đó làm tăng sinh các protein gây viêm và gây trạng thái bệnh lý (viêm).

Nhờ ức chế được NFƘB, nên curcumin làm giảm hoạt tính của các enzyme gây viêm như lipooxygenase, iNOS. Hoạt chất này cũng ức chế hoạt tính của cyclooxygenase-2 (COX-2) là enzyme gây viêm.

Mặc dầu có cơ chế tác dụng rõ ràng, tác dụng phòng bệnh và điều trị phong phú, nhưng trong thực tế, curcumin vẫn tỏ ra chưa có hiệu lực cao. Đó là do dược động học không thuận lợi, sinh khả dụng kém của curcumin khi dùng đường uống, khiến dùng nhiều nhưng vào đến đại tuần hoàn chẳng được bao nhiêu, phần lớn thải lãng phí qua đường ruột.Tuy vậy, vẫn có ích trong dự phòng và điều trị một số bệnh ở ống tiêu hóa.

curcumin

 

Ở môi trường pH=7,2 (tương ứng với môi trường trong cơ thể), thời gian bán thải t/2 của curcumin tinh khiết chỉ là < 10 phút, trong khi dạng phytosome của curcumin vẫn còn lưu 82% ổn định sau 240 phút. Như vậy, ở dạng thường, curcumin đào thải rất nhanh khỏi cơ thể, nên hoạt lực không thể hiện như mong muốn. Với dạng phytosome: curcumin không bị đào thải nhanh, ổn định lâu trong đại tuần hoàn, đem lại hiệu lực cao hơn.

Có thể chỉ ra các nhược điểm của curcumin như sau:

Là phân tử kỵ nước, nên khi uống tới ruột non không tách được ra thành từng phân tử riêng lẻ, sẽ “vón cục” và khi tới thành tế bào ruột non lại không thoát qua hàng rào ruột non được.

Curcumin còn chuyển hóa và bị phân hủy ở ruột non.

Một lượng rất ít có thể thoát hàng rào ruột non, nhưng vào tới gan lại bị phân hủy tiếp theo bởi chuyển hóa lần đầu tiên qua gan (first pass metabolism) để trở thành những phân tử phân cực dễ bị đào thải theo đường tuần hoàn hệ thống.

Tới 11,78% bị hủy hoại qua chuyển hóa khi di chuyển. Khó khăn hơn nữa là còn tích lũy trong tế bào ruột – gan >20%, không thoát vào dịch di chuyển, cuối cùng hoạt chất rất ít qua màng tế bào ruột non để vào hệ thống.

Những cách nâng cao sinh khả dụng của curcumin

  1. Kết hợp với hạt tiêu (Piper nigrum)

Uống 20mg piperin (Bioperine) cùng 2 gram curcumin làm tăng hấp thu và sinh khả dụng của curcumin ở người nhờ piperin trong hạt tiêu ức chế được các enzyme làm bất hoạt curcumin ở niêm mạc ruột và ở gan. Piperin giúp tăng dòng máu tới ống tiêu hóa, giảm tiết acid clohydric nên ngăn ngừa sự hủy hoại curcumin. Piperin làm tăng hàm lượng enzyme gamma – glutamyl – transpeptidase góp phần vận chuyển hoạt chất qua hàng rào ruột non.

curcumin, Ket hop tieu den voi curcumin

Kết hợp với hạt tiêu đen làm tăng hấp thu curcumin lên đến 20 lần

Ngoài piperin, còn kết hợp curcumin với các chất khác làm tăng tác dụng hiệp đồng như quercetin, genistein, EGCG trong lá trà xanh, resveratrol trong vỏ quả nho…

Tuy nhiên không phải lúc nào kết hợp piperin với các hoạt chất cũng đều tốt, đặc biệt với những bệnh nhân mắc nhiều bệnh cùng một lúc. Tham khảo thêm bài viết Viêm loét dạ dày dùng piperin có an toàn không?

  1. Dạng curcumin – nano

Curcumin không tan trong nước, nhưng nhờ kích thước bé dưới dạng nano, có thể vượt qua hàng rào ruột non dưới dạng các phân tử riêng lẻ thuận lợi hơn.

  1. Dạng phức hợp với phosphatidylcholin

Hiện nay, cách phối hợp rất đáng lưu ý là “curcumin + phosphatidylcholin” trong một phức hợp là phytosome.

 

curcumin phytosome

  • Phân tử phosphatidylcholin có tính phân cực gồm một đầu amoni mang điện dương tan trong nước, một đầu phosphatidyl có thể tạo liên kết hydro với các gốc phenolhydroxy và enolhydroxy của curcumin. Dây mỡ (aliphatic chain) của phosphatidylcholin sẽ bao bọc curcumin, giúp cho phức hợp này dễ tan trong lipid.
  • Dạng bào chế phytosome có nghĩa: Phyto là thực vật (ở đây là thảo dược curcumin), some là “giống như tế bào” (cell-like), vì một phân tử curcumin tạo được liên kết hóa học, nằm gọn và được “ôm ấp”, che chở nhờ phân tử phosphatidylcholin “giống như một tế bào”.

curcumin phytosome, công nghệ phytosome, Kukumin IP, Meriva, Indena Italy, curcuma phospholipid

Công nghệ phytosome – làm tăng hấp thu của curcumin lên đến trên 30 lần.

  • Theo cách kết hợp này, phức hợp phytosome có tỷ lệ tan trong nước/lipid hợp lý, giúp phân tử dễ qua màng ruột non. Đáng lưu ý là, chính màng tế bào ruột non cũng hợp thành từ các phosphatidylcholin.
  • Phức hợp này thật ra cũng bị giáng hóa ở gan như với curcumin đơn chất, nhưng nhờ lượng lớn qua ồ ạt thành ruột non mà enzyme xúc tác cho chuyển hóa ở gan lại có tính bão hòa nên lượng phức hợp này mất mát không đáng kể, hàm lượng curcumin được giải phóng trong đại tuần hoàn vẫn đủ sức đi tới tế bào và cơ quan đích để phát huy hiệu lực mong muốn.
  • Khả năng hấp thu của dạng phytosome gấp khoảng trên 30 lần so với dạng curcumin đơn thuần.

curcumin phytosome hấp thu tăng 31.5 lần

Bảng: So sánh động học của dạng curcumin – phytosome so với curcumin đơn chất trên người: Uống 1,9gram phytosome (tương đương 376mg curcumin) so với uống 1,8gram curcumin đơn chất.

(Chú thích): C max = nồng độ đỉnh trong huyết tương; AUC = diện tích dưới đường biểu diễn nồng độ/thời gian

Tính ưu việt của dạng phytosome:

  1. Phytosome làm tăng sinh khả dụng của hoạt chất: Nhờ tạo phức hợp “curcumin – phosphatidylcholin” nên hoạt chất giải phóng nhanh, cải thiện được hấp thu qua ống tiêu hóa, tác dụng phòng và chữa bệnh nổi trội.
  2. Dạng phytosome giúp thảo dược nào nếu không tan trong lipid vẫn sẽ hấp thu được tốt hơn qua hàng rào ruột non.
  3. Nhờ cải thiện được hấp thu nên chỉ cần liều thấp hơn hẳn so với dạng truyền thống mà vẫn đạt được hiệu lực cao.
  4. Dạng phytosome là liên kết hóa học giữa thảo dược với “chất mang” là phosphatidylcholin “như một tế bào” (some; cell-like), nên tác dụng nổi bật hơn hẳn dạng liposome.
  5. Phytosome được dùng trong mỹ phẩm bôi ngoài vì dễ thấm hơn qua da.
  6. Tuy là “chất mang”, nhưng chính phosphatidylcholin cũng có tác dụng dược lý, bồi bổ bảo vệ gan nên có tác dụng hiệp đồng khi dùng dưới dạng phytosome với các thuốc và thực phẩm chức năng, coi như chất bổ sung dinh dưỡng.

Tại Việt Nam, Curcumin phytosome đã được bổ sung với hàm lượng cao trong sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh dạ dày là Kukumin IP. Kukumin IP vừa hấp thu nhanh, duy trì thời gian tác dụng lâu trong cơ thể, có đặc tính chống viêm mạnh, tăng làm lành và tăng tái tạo niêm mạc dạ dày và đường tiêu hóa. 

Kukumin IP là sản phẩm mà Giáo sư Hoàng Tích Huyền đang dùng để bảo vệ sức khỏe và cũng là sản phẩm mà Giáo sư khuyên dùng cho những người bệnh dạ dày và bệnh đường tiêu hóa. 

Kukumin IP

Lưu ý sản phẩm này không phải là thuốc và không thay thế thuốc chữa bệnh.

Tham khảo tại sao Kukumin IP lại hỗ trợ tốt nhất cho người bệnh viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày?

Tham khảo về sản phẩm Kukumin IP

Điện thoại tư vấn 

18008076098 128 3766

One thought on “Phát hiện của GS.TSKH. Hoàng Tích Huyền về curcumin

  1. Pingback: Điều trị hiệu quả viêm đại tràng mạn tính bằng thuốc đông y

Trả lời

Facebook chat